Showing posts with label bao bi. Show all posts
Showing posts with label bao bi. Show all posts

Thursday, March 14, 2013

NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT BAO BI NHUA NGÀY CÀNG CẠN KIỆT


Việc hình thành các nhà máy tái chế phế liệu BAO BI NHUA sẽ là bước khởi đầu trong nỗ lực giảm bớt gánh nặng khó khăn về nguyên liệu cho doanh nghiệp.
 
Duy trì tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 15-20%, suốt hơn 10 năm qua, ngành BAO BI NHUA Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
 
Nhưng trước thực trạng thị trường nhiều biến động khó lường như hiện nay, không ít doanh nghiệp và nhà quản lý đang lao đao với bài toán đầu vào nguyên liệu.
 
Gần 90% nguyên liệu phải nhập khẩu
 
Ngành BAO BI NHUA cả nước có khoảng 2.200 doanh nghiệp, trong đó hơn 80% tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh và chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân nhỏ, quy mô gia đình với năng lực cạnh tranh yếu.
Theo kết quả khảo sát của các ngành chức năng, hiện có đến hơn 90% doanh nghiệp chủ yếu làm gia công và chưa chủ động được nguồn nguyên liệu.
 
Ông Vũ Xuân Mừng, Phó trưởng Cơ quan đại diện Bộ Công Thương tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, chi phí nguyên liệu chiếm 70-80% giá thành sản phẩm nên việc biến động tỷ giá hối đoái đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
 
Thách thức lớn nhất của ngành hiện nay là nguồn cung nguyên liệu 80-90% từ nước ngoài, tương đương với khoảng 2,1 tỷ USD/năm.
 
Từ năm 2008 đến nay, ngành BAO BI NHUA phải gồng mình hứng chịu nhiều đợt tăng giá nguyên liệu đã tác động không nhỏ đến công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong hơn 11 tháng năm 2009, ngành BAO BI NHUA đã nhập hơn 2 triệu tấn nguyên liệu BAO BI NHUA, với tổng giá trị gần 2,5 tỷ USD.
 
Do quá phụ thuộc vào nguyên liệu nên giá bán của doanh nghiệp Việt Nam luôn cao hơn Trung Quốc, Ấn Độ khoảng 10-15%. Hiện cả nước mới chỉ có khoảng 3 nhà máy sản xuất nguyên liệu cho ngành BAO BI NHUA với tổng công suất mỗi năm khoảng 250.000 tấn PVC và 150.000 tấn nguyên liệu DOP.
 
Do nguyên liệu sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu cầu, nên hàng năm ngành vẫn phải nhập khẩu 1,6-2 triệu tấn các loại nguyên liệu khác.
 
"Tuy nhiên do đa số các loại nguyên liệu BAO BI NHUA đều được sản xuất từ dầu khí nên giá chịu tác động trực tiếp từ các cơn địa chấn giá của các mặt hàng này. Không những thụ động về đầu vào, doanh nghiệp còn chịu sự biến động không ngừng về giá", ông Mừng lý giải.
 
Lối ra - nguồn phế liệu BAO BI NHUA trong nước
 
Sớm nắm được yếu tố không bền vững này, quy hoạch tổng thể ngành BAO BI NHUA giai đoạn 2000-2010, Bộ Công Thương đã đưa việc phát triển công nghiệp sản xuất nguyên liệu cho ngành BAO BI NHUA là 1 trong 3 chương trình trọng điểm.
Theo đó, việc hình thành các nhà máy tái chế phế liệu BAO BI NHUA sẽ là bước khởi đầu trong nỗ lực giảm bớt gánh nặng khó khăn về nguyên liệu cho doanh nghiệp.
 
"Nguồn phế liệu BAO BI NHUA trong nước rất dồi dào nhưng chúng ta vẫn chưa tận dụng được. Nguyên nhân là do hệ thống thu gom nhỏ lẻ, không tập trung; phế liệu hầu như không được xử lý và phân loại theo đúng quy cách; công nghệ lạc hậu...", ông Nguyễn Khắc Long, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần BAO BI NHUA Việt Nam nói.
 
Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, hiện giá nhập hạt BAO BI NHUA PET khoảng 1.300 USD/tấn, nếu tái sinh được từ chính nguồn phế liệu thì giá thành sẽ giảm được gần 30%.
 
Khác với thời gian trước đây, tỷ lệ tái sinh hạt tái sinh pha với BAO BI NHUA nguyên sinh thường chỉ đạt dưới mức 20%, hiện tỷ lệ đó đã tăng lên gấp 3-4 lần.
 
Ngoài ra, với công nghệ tiên tiến trên thế giới đã cho phép tăng cường khả năng cạnh tranh do hạn chế được các khoản phát sinh trong sản xuất như điện năng tiêu hao, nhân công...
 
Theo ông Long, ở Việt Nam, chỉ tính mức tận dụng từ 35-50% nguyên liệu BAO BI NHUA tái sinh sẽ góp phần tiết kiệm hơn 600 triệu USD mỗi năm cho doanh nghiệp, đồng thời cũng tăng được 25% kim ngạch xuất khẩu của ngành.
 
Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, nhiều doanh nghiệp đang xem việc sử dụng BAO BI NHUA tái chế đóng vai trò như nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu giá rẻ trong việc hạ giá thành sản phẩm.
 
Khảo sát của các doanh nghiệp, với việc sử dụng phế liệu BAO BI NHUA làm cho giá nguyên liệu đầu vào giảm khoảng 30% sẽ góp phần giảm giá thành sản phẩm hơn 15%, tăng được tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam.
 
"Ngoài ra đối với nhiều khách hàng khó tính như Mỹ, Nhật Bản... họ còn yêu cầu sản phẩm BAO BI NHUA xuất khẩu phải sử dụng tối thiểu 10% BAO BI NHUA tái sinh để hạ giá bán và sản phẩm thân thiện với môi trường", ông Nguyễn Văn Phước, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên-Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cho biết.

Tuesday, March 12, 2013

CÁCH PHÂN LOẠI BAO BI NHỰA THEO CÔNG DỤNG



Trong thực tế sản xuất và sử dụng, BAO BI nhựa thường được phân loại thành 3 loại ( tiêu chuẩn)
+ Nhựa thông dụng
+ Nhựa kỹ thuật
+ Nhựa chuyên dùng
1) Nhựa thông dụng
Là loại được sử dụng với một lượng lớn. Bao gồm những chủng loại nhựa: PE, PP, PS, ABS, PVC, PMMA
2) Nhựa kỹ thuật
          Là tên chung của những loại nhựa mà chất lượng trội hơn nhiều so với nhựa thông dụng như PE và PS trong tính chất cơ lý như độ bền kéo, độ kháng nhiệt, . . . và được sử dụng sản xuất cho các chi tiết máy và chi tiết yêu cầu tính năng cao. Nhựa kỹ thuật được cải thiện về độ bền trơn, kháng hóa chất, nhiệt, . . . cũng có công dụng cao trong sử dụng. Chúng được gia công sợi thủy tinh, sợi carbon… theo công dụng yêu cầu. Loại nhựa kỹ thuật tiêu biểu là PA, PC, PPO biến tính, POLYESTER bão hòa, nhựa FLUORIDE, PI, nhựa SULFONAMID, PPS, . . .
3) Nhựa chuyên dùng
           FLOURINGTED ETHYLEN PROPYLENE (FEP), SILICONE (SI), PE trọng lượng phân tử cực kỳ cao, . . . cũng không thuộc trong các loại nhựa thông dụng, nhựa kỹ thuật. Mỗi loại nhựa chỉ sử dụng trong một số lĩnh vực riêng biệt.

Monday, March 11, 2013

MEN BIA CHẤT DÙNG ĐỂ TẠO RA BAO BI NHỰA TỐT HƠN


Tiến sĩ Richard Gross, giáo sư hóa học và khoa học sinh học tại Viện Bách khoa của Trường Đại học New York (NYU-Poly) đã phát triển một phương pháp sản xuất nhựa sinh học có độ dễ uốn cao, và bền cao bằng cách sử dụng men bia và một trong những khối xây dựng đơn giản nhất của tự nhiên: các axit béo của loại dầu thực vật. Các phát hiện này đã được công bố trên Tạp chí của Hội Hóa học Mỹ.

 
 

 
Tiến sỹ Richard Gross, ông là người đã phát triển phương pháp tạo ra một loại nhựa từ men bia
 
Các phần tử này được gọi là axit omega-hydroxyfatty, và khi kết hợp với nhau để tạo thành bao bi  nhựa, chúng có thể sản xuất một loại nhựa sinh học thân thiện. Cho đến nay, axit omega-hydroxyfatty gặp nhiều khó khăn và tốn kém chi phí để sản xuất bằng cách sử dụng phương pháp truyền thống. Điều này đã hạn chế việc sử dụng rộng rãi của chúng.

Tiến sĩ Gross đã sản xuất monomer trong một quá trình lên men đầu tiên, một phương pháp khá nhanh chóng có chi phí thấp. Sau đó, monomer được trùng hợp tạo thành một loại nhựa tự nhiên mạnh dễ uốn dẻo duy nhất mà nó phân hủy hoàn toàn bằng sinh học trong đất.

Ông Gross và nhóm của ông đã nghĩ ra một cách mới để sản xuất monomer bằng cách sử dụng một chủng biến đổi gen của Candida tropicalis, một trong nhiều loại nấm men sống vô hại cho con người và động vật.  Men kỹ thuật có khả năng chuyển đổi các axit béo của dầu thực vật thành một lượng lớn axit omega-hydroxyfatty.

Khi được trùng hợp, nguyên liệu mới có thể là một thay thế thích hợp cho các loại nhựa có nguồn gốc dầu mỏ, như polyethylene cho việc sử dụng như găng tay dùng một lần, màng đa lớp đóng gói thực phẩm, màng dùng cho nước đá, thùng rác, hàng may mặc, sản xuất túi xách và nhiều ứng dụng khác hơn nữa.

“Đây là một phát triển rất thú vị trong lĩnh vực này, và không chỉ bởi vì chúng tôi đã tạo ra nhựa sinh học với tính chất mong muốn,” ông Gross cho biết. “Quá trình này không sử dụng nhiên liệu hóa thạch, và về mặt sinh học mỗi bước thực hiện đều mang tính thân thiện, từ các axit béo trong dầu thực vật thông qua các sản phẩm cuối cùng đa năng với  100% là nhựa phân hủy sinh học.”

Nhựa sinh học mới có khả năng chống ẩm rất cao, là một cải tiến quan trọng đối với nhựa sinh học hiện đang được bán ngoài thị trường, như loại nhựa từ axít polylactic và nhựa làm từ tinh bột.

Công ty của ông Gross, SyntheZyme được khai thác bởi công ty dự án nghiên cứu cao cấp Quốc Phòng Mỹ (U.S. Defense Advanced Research Projects Agency) (DARPA) để phát triển nhựa sinh học này. Nguyên liệu ban đầu được dự định để phục vụ hai mục đích: là nguyên liệu đóng gói ở trạng thái rắn, và như là một nhiên liệu sinh học cho động cơ quân sự sau khi bị hỏng hoặc phá trùng hợp đối với monomer.

Sự phát triển nguyên liệu và hiệu suất trong trạng thái rắn đã được hoàn tất thành công. Việc nghiên cứu chuyển đổi nhựa thành dầu diesel hiện đang được tiến hành. SyntheZyme là một thành viên của New York City Accelerator cho một nền kinh tế cân đối và tái tạo (Clean and Renewable Economy - NYC ACRE), một nhà gia tốc kinh doanh mới cho công nghệ làm sạch và các công ty năng lượng tái tạo tại thành phố New York.

NYC ACRE được điều hành bởi NYU-Poly như là một phần của sự cam kết về sự đổi mới, sáng chế và nhà doanh nghiệp - một triết lý mà họ gọi là i-squared-e và nhận sự hỗ trợ từ Cơ Quan Phát Triển và Nghiên Cứu Năng Lượng tại New York New York (State Energy Research and Development Authority) (NYSERDA).

Giới thiệu về Viện Đại học Bách khoa của Đại học New York

Viện Bách khoa Đại học New York (trước đây là Trường Đại học Bách Khoa), một chi nhánh của Đại học New York, là một trường học phổ thông hỗn hợp về kỹ thuật, khoa học ứng dụng, công nghệ và nghiên cứu, và có truyền thống 156 năm về sự đổi mới, sáng chế và nhà doanh nghiệp: i-squared-e.

Viện được thành lập vào năm 1854 – là trường kỹ thuật tư nhân viện quốc gia thứ 2 lâu đời nhất. Ngoài khuôn viên chính tại thành phố New York tại Trung tâm MetroTech trong trung tâm thành phố Brooklyn, Viện cũng cung cấp các chương trình tại các địa điểm trong khu vực và trên toàn cầu. Trên toàn cầu, NYU-Poly có các chương trình tại Israel, Trung Quốc và là một phần của khuôn viên trường đại học New York tại Abu Dhabi.

CÔNG NGHỆ NANO MỚI BIẾN ĐỐI THỰC VẬT THÀNH NHỰA


Bao bi Nhựa sinh học hiện có được sản xuất từ các cây trồng như cây ngô và cây mía chỉ được sử dụng hạn chế vì chúng không thay thế được cho các sản phẩm từ dầu mỏ.
Trái lại, hệ thống mới tạo ra các hóa chất giống như các hóa chất được sản xuất bằng các vật liệu hóa dầu cho phép sử dụng chúng trên phạm vi rộng trong các ngành công nghiệp. Nghĩa là chúng sẽ không phân hủy sinh học mặc dù được sản xuất từ các tài nguyên tái tạo.
GS Krijn De Jong và các cộng sự tính đến sử dụng các nguồn sinh khối phi lương thực cho quy trình mới như trồng cây hoặc cỏ sinh trường nhanh chứ không phải các cây trồng truyền thống để giảm cạnh tranh về tài nguyên giữa lương thực và nhiên liệu.
Tuy nhiên, nhựa từ sinh khối dễ vẫn bị chỉ trích là “cản đường” sản xuất nhiên liệu sinh học. Những người chỉ trích cho rằng sản xuất một số nhiên liệu sinh học có thể chiếm đất đáng lẽ ra được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp, do đó làm hạn chế lương thức và tài nguyên ngước cho dân số thế giới đang tăng nhanh. Một số hoạt động sản xuất nhiên liệu sinh học cũng làm tăng phát thải cacbon đặc biệt nếu các cánh rừng mưa bị chặt phát để thúc đẩy sản xuất.
Các chất xúc tác được chế tạo ở Hà Lan bao gồm các hạt nano nhỏ tách nhau ra thành các sợi nano cacbon. Trong các thử nghiệm tại phòng thí nghiệm, các chất xúc tác này thể hiện khả năng chuyển đổi có hiệu quả cao sinh khối từ hỗn hợp khí hydro và cacbon monoxit, thành ethylene và propylene. Điều quan trọng là quy trình này hoạt động mà không thải ra khối lượng lớn metan, sản phẩm phụ không mong muốn của quy trình xúc tác khác sử dụng các hạt sắt cỡ lớn.
Hiện giờ, nhóm nghiên cứu lập kế hoạch tăng sản xuất chất xúc tác bằng cách liên kết với các chuyên gia từ Johnson Matthey, nhà cung cấp bộ chuyển đổi bằng xúc tác lớn nhất thế giới cho xe cộ.
Công nghệ nano liên bao gồm chế tạo và san xuất các vật liệu có tỷ lệ 1 phần tỷ m là lĩnh vực khoa học vật liệu đang phát triển nhanh có các ứng dụng trong ngành y, điện tử và cho các lớp mạ.
Nghiên cứu của các nhà khoa học Hà Lan gần đây được đăng tải trên tạp chí Science vẫn ở giai đoạn sớm. Hiện nay, nghiên cứu cần có các dự án thử nghiệm và thí điểm trên quy mô lớn hơn, nên vẫn sẽ chưa có mặt trên thị trường trong vài năm tới.

Sunday, March 10, 2013

SẢN PHẨM BAO BI NHUA PP (POLYPROPYLEN)


 Bao bi nhua  PP được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực gia dụng và kỹ thuật
Đặc tính
  • Tính bền cơ học cao (bền xé và bên kéo đứt), khá cứng vững, không mềm dẻo như PE, không bị kéo dãn dài do đó được chế tạo thành sợi. Đặc điểm khả năng bị xé rách dễ dàng khi có một vết cắt hoặc một vết thủng nhỏ.
    Trong suốt, độ bòng bề mặt cao cho khả năng in ấn cao, nét in rõ.
    PP không màu, không mùi, không vị, không độc. PP cháy sáng với ngọn lửa màu xanh nhạt, có dòng chảy dẻo, có mùi cháy gần giống mùi cao su.
    Chịu được nhiệt độ cao hơn 100oC. Tuy nhiên nhiệt độ hàn dán mí (thân) bao bì PP (140oC), cao so với PE - có thể gây chảy hư hỏng màng gép cấu trúc bên ngoài, nên thường ít dùng PP làm lớp trong cùng.
    Có tính chống thấm O2, hơi nước, dầu mỡ và các khí khác.
    Độ nóng chảy ~ 165oC
    Độ dai va đập 3.28 - 5.9kJ/m2
    Tỷ trọng với PP vô định hình: 0.85g/cm3, PP tinh thể: 0.95g/cm3
  • Công dụng
    Dùng làm bao bì một lớp chứ đựng bảo quản thực phẩm, không yêu cầu chống oxy hóa một cách nghiêm ngặt.
    Tạo thành sợi, dệtt hành bao bì đựng lương thực, ngũ cốc có số lượng lớn.
    PP cũng được sản xuất dạng màng phủ ngoài đối với màng nhiều lớp để tăng tính chống thấm khí, hơi nước, tạo khả năng in ấn cao, và dễ xé rách để mở bao bì (do có tạo sẵn một vết đứt) và tạo độ bóng cao cho bao bi.
  • Ký hiệu
    Trên sản phẩm sử dụng nguyên liệu chính từ PP sẽ được ký hiệu bằng số 5 đặt trong một hình tam giác cân.


TRUNG QUỐC TĂNG GIÁ CHÀO BAO BI NHUA PP VỚI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM


Trong cuộc trò chuyện, một thương nhân Việt Nam thông báo về mức giá chào bao bi nhua  PP mới tại thị trường trong nước.
Thương nhân cho biết “Sinopec, Trung Quốc đã tăng mức giá chào bao bi PP đối với thị trường Việt Nam . Nhà sản xuất Trung Quốc đưa ra mức giá chào PP Homopolymer cao hơn, đạt ở mức 1510 USD/tấn.” 

Wednesday, March 6, 2013

BAO BI NHUA PHÁT MINH CỦA THẾ KỈ


Không ai có thể phủ nhận được bao bi nhua là một vật liệu kì diệu. Đa số những thứ đang ở xung quanh ta: từ thước, bàn ghế, máy giặt, cửa,… đều được làm bằng nhựa! Bên cạnh đó, nhựa có thể sử dụng được lâu, nhẹ và hiệu quả hơn hẳn so với các vật liệu khác. Việc phát minh ra nhựa là một bước tiến cơ bản nhưng vĩ đại của con người để cho ra đời hàng loạt những phát minh quan trọng khác, con người gần như không thể duy trì một cuộc sống hiện đại tiện nghi như thế này nếu thiếu nhựa.

Nhựa - chất liệu của cuộc sống hiện đại
Chúng ta đều biết rằng những chất hóa học độc hại sẽ thoát ra từ nhựa và thải ra môi trường sống của chúng ta. Hơn nữa, muốn chế tạo được nhựa từ dầu đòi hỏi một lượng lớn năng lượng. Nhựa đã độc hại đến thế, ô nhiễm môi trường đến thế vậy thì tại sao con người vẫn tiếp tục sản xuất ra chúng? Mặt tiêu cực của vấn đề thì ai cũng nắm rõ. Thế nhưng liệu ta có biết rằng nhựa đã thay thế những vật liệu vô cùng độc hại khác như đồng, chì, sắt, thép... ? Để khai thác được chúng, biết bao nhiêu người đã chết, hàng tấn khí, các chất độc hại đã bị thải ra ngoài môi trường (các chất hóa học vô cùng nguy hiểm như thủy ngân). Có ai biết rằng phải tốn bao nhiêu năng lượng để sản xuất ra được kiếng? Liệu việc sản xuất ra nhựa phải tốn nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường hơn các chất đã nêu trên? Hoàn toàn không!
Những cuộc tranh cãi không ngừng về tác hại của nhựa đối với đời sống của con người thường được dấy lên bởi những người phản đối kịch liệt thứ vật liệu kì diệu ấy, một phần nào đã làm lu mờ đi sự thật rằng nhựa được tạo ra bởi những chất thải trong quá trình tinh chế dầu, những thứ độc hại ấy sẽ bị thải ra vào môi trường nếu không nhờ vào nhựa, ít ai ngờ rằng nhựa lại thân thiện với môi trường như vậy!
Hàng loạt thông tin đã được đăng lên báo đài rằng không phải tất cả loại nhựa có thể tái chế được. Nhưng thật bất ngờ, nhựa luôn luôn có thể tái chế được, tất cả các loại! Vấn đề ở đây không phải là do bản thân nhựa, đó chính là do cách con người xử lí nó. Nếu chúng ta muốn tái chế từng cái bọc ni lông, từng miếng nhựa đã qua sử dụng, điều đó không nằm ngoài khả năng của chúng ta NẾU CHÚNG TA MUỐN! Tuy nhiên chúng ta đã không làm như vậy vì những lí do cá nhân. Và con người đã xả rác bừa bãi ra ngoài môi trường rồi quay sang đổ lỗi cho thứ vật liệu tuyệt vời này. Cuối cùng, một con số đã gây suy nghĩ cho nhiều người: nhựa chỉ chiếm khoảng 5% rác thải trong thùng rác của bạn thôi, bằng với kính.
Nhựa hoàn toàn có thể tái chế được
Vậy tại sao nhựa lại bị con người lên án dữ dội như vậy? Rất đơn giản, đó là vì ô nhiễm do nhựa gây ra có thể dễ dàng nhận ra được và thật sự là không “đẹp mắt”. Cũng xin nói thêm: trong các loại ô nhiễm môi trường, những thứ thấy được không bao giờ đứng ở vị trí cao trong danh sách đe dọa nguy hiểm đến con người, có hàng tá những chất ô nhiễm, chất độc hại khác vô cùng nguy hiểm và góp phần thúc đẩy nhanh hiện tượng nhà kính, làm ô nhiễm môi trường trầm trọng thế nhưng chúng ta không nhận thức được. Đó là do những loại gây ô nhiễm vô hình, vì vô hình nên không có cách khắc phục, làm cho tình hình ngày càng trầm trọng hơn. 
Nếu thấy được những hành động do mình vô tình gây nên thì chắc chắn rằng chúng ta sẽ vô cùng hối hận, có thể theo tất cả những gì ở trên chỉ là những lời khoa trương, nhưng những thông tin đó là xác thực được thu thập từ những nguồn tài liệu khác nhau. Thế nên đừng đỗ lỗi cho thứ vật liệu vô tội ấy, hãy suy xét những hành động của chính mình để kịp thời ngăn chặn sự ô nhiễm trên Trái Đất này.
Bảo vệ Trái đất là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta !

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI DÙNG NHỰA ĐỰNG THỰC PHẨM


Việc người dùng chưa biết chọn và sử dụng các sản phẩm bao bi nhua đúng với đặc tính sản phẩm và phù hợp chất liệu nhựa có thể gây các nguy cơ không an toàn đối với sức khoẻ.
Những lưu ý quan trọng khi dùng đồ nhựa đựng thực phẩm
Các hộp nhựa ghi "microwave-safe"-safe hay "microwavable" chỉ có ý nghĩa là không nứt vỡ...
Không tái sử dụng chai nhựa, hộp nhựa mỏng

Chai đựng nước ngọt và nước uống đóng chai thường được làm từ nhựa #1 PET, là loại nhựa chỉ đảm bảo chất lượng cho sử dụng một lần.



Một lý do nữa không nên tái sử dụng chai đựng nước và soda làm từ nhựa #1 là vì chúng rất khó cọ rửa sạch. Đây là loại nhựa xốp, những chai này trong quá trình sử dụng đã bị ngấm các hương liệu và vi khuẩn mà bạn không có cách nào rửa sạch chúng được.

TS Ngô Kế Thế, Trưởng phòng nghiên cứu vật liệu Plolyme - composite, Viện Khoa học Vật liệu cũng khẳng định, các sản phẩm bằng nhựa dùng một lần thường được làm mỏng, độ bền kém.

Ngoài ra, loại nhựa này có độ thôi nhiễm kém, có thể dùng lần thứ nhất không sao nhưng sử dụng lần thứ 2 là đã bị thôi các chất tạo nên như màu, chất phụ gia. Đặc biệt, sử dụng lại trong nhiệt độ cao sẽ khiến các chất phụ gia bị thôi nhiễm gây độc hại cho sức khoẻ người dùng. Vì thế, tốt nhất dùng đúng với mục đích của nhà sản xuất và tuân thủ đúng các chỉ dẫn.

Biểu tượng hay nhãn "microwave-safe" hoặc "microwavable" (sử dụng được trong lò vi sóng) trên các hộp nhựa chỉ có nghĩa rằng chúng sẽ không bị chảy, nứt vỡ, hoặc tách rời ra khi quay trong lò vi sóng.

Biểu tượng này không đảm bảo rằng những cái hộp đó sẽ không thôi hóa chất ra trong quá trình xử lý nhiệt. Tốt nhất hãy chỉ sử dụng hộp đựng hay bát đĩa bằng thủy tinh, sành, sứ để quay thực phẩm trong lò vi sóng.

Các nhà khoa học cũng cảnh báo về việc tránh sử dụng hộp nhựa hoặc các loại túi, màng bọc bằng chất dẻo để cất giữ thịt và pho mát. Hãy rửa các hộp nhựa nhẹ nhàng với xà phòng không chứa chất ăn mòn, bởi các loại cọ và hóa chất tẩy rửa mạnh có thể làm xước bề mặt nhựa, trở thành “ngôi nhà lý tưởng” cho vi khuẩn.

Không dùng đồ nhựa ở nhiệt độ cao 100oC

Cũng theo TS Kế Thế, sử dụng nhựa nguyên chất trong bảo quản thực phẩm có màu trắng đảm bảo độ an toàn hơn nhựa màu. Tuy nhiên, tùy vào từng loại nhựa, chất tạo màu mà nhựa màu có độ an toàn khác nhau.
Ví dụ, nhựa làm bằng màu vô cơ ít độc hại, màu hữu cơ thì độc hơn. Có thể phân biệt bằng cách soi dưới ánh mặt trời. Nếu là nhựa màu vô cơ sẽ không nhìn thấy mặt trời, nếu là nhựa hữu cơ sẽ nhìn thấy mặt trời. Phân loại theo nhiệt độ, có hai loại nhựa là nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt cứng.

Nhựa nhiệt dẻo sẽ biến dạng khi có sử dụng ở nhiệt độ cao. Còn bao bi  nhựa nhiệt cứng đựng được ở nhiệt độ cao hơn. Tuy nhiên, tốt hơn hết nên hạn chế dùng nhiệt độ cao khoảng gần 100oC trở lên để tránh các nguy cơ thôi nhiễm hóa chất.

Cách xác định loại nhựa
Những lưu ý quan trọng khi dùng đồ  nhựa đựng thực phẩm
Theo thông tin của tổ chức Green Guide (Hoa Kỳ), nhựa được phân loại theo mã xác định loại nhựa, được đánh số từ #1 - #7 để chỉ các loại nhựa khác nhau. Con số này được đặt bên trong biểu tượng hình tam giác, thường thấy dưới đáy hộp.

Trong các mã đó, chỉ có nhựa #2 HDPE, #4 LDPE và #5 PP là lựa chọn tốt nhất để tiếp xúc với thực phẩm bởi chúng không thôi bất cứ một hóa chất nào đã được biết đến ra thực phẩm.

#5 PP là thích hợp nhất cho sử dụng làm hộp đựng thực phẩm và màng bọc thực phẩm, trong khí đó #2 HDPE dùng làm chai đựng sữa và #4 LDPE thích hợp để sản xuất túi đựng thực phẩm.

Tuesday, March 5, 2013

Thông báo mới tên miền .XXX sẽ ra đời trong năm nay


uy chưa chính thức nhưng hiện tại website của ICM Registry đã nhận đăng ký tên miền  trước nhằm giúp các khách hàng “giữ chỗ” những tên miền đẹp. Trong thế giới Internet, cụm ký tự XXX thường được ngầm hiểu là những website có chứa nội dung khiêu dâm.
Nhà dang ky ten mien ICM Registry (Mỹ) cho biết rất có thể họ sẽ chính thức nhận đăng ký và cung cấp tên miền .xxx cho khách hàng trên toàn thế giới vào cuối năm nay.
Từ năm 2004, ICM Registry đã có ý định cung cấp tên miền .xxx nhưng liên tục vấp phải sự phản đối của ban lãnh đạo ICANN với lý do các tên miền dạng này quá nhạy cảm, không phù hợp với đạo đức và sức ép phản đối từ chính phủ Mỹ. Phía ICM Registry lý giải rằng, họ muốn “gom” tất cả những website thuộc ngành công nghệ tình dục về tên miền dạng này để giúp người dùng Internet toàn cầu có thể dễ dàng tìm kiếm (nếu có nhu cầu) hoặc tránh xa để không bị “vào nhầm” như hiện nay.
Quyết định cuối cùng về việc ICANN có chấp thuận tên miền .xxx hay không sẽ được đưa ra sau các cuộc gặp với ICM tại Nairobi (Kenya) vào tháng sau.
Theo ICTnews (DNCrunch

CÁCH PHÂN BIỆT NHỰA CÓ ĐỘC


Cuộc sống của chúng ta thường tiếp xúc với những loại bao bi nhua và những sản phẩm làm từ nhựa nhưng vẫn chưa biết được cách phân biệt nhựa nào có độc nhựa nào không . Dưới đây là 2 cách nhận biết.
Cách 1: Dùng kéo cắt một miếng nhựa cho vào lửa và quan sát. Nhựa không độc dễ cháy, khi kéo ra khỏi lửa vẫn tiếp tục cháy. Nhựa có tính độc khó cháy, kéo ra khỏi lửa liền tắt ngấm. Lúc cháy, nhựa độc không sùi bọt, có mùi lạ.
Cách 2: Quan sát bằng giác quan. Về màu sắc, khi xếp chồng những màng nhựa mỏng lên nhau và nhìn kỹ, bạn sẽ nhận thấy nhựa độc có màu xanh nhạt, trọng lượng lớn, thả xuống nước dễ chìm. Nhựa không độc chỉ có màu trắng, trọng lượng nhẹ, khi thả sẽ nổi lên mặt nước. Dùng tay sờ, nhựa không độc có cảm giác giòn, trơn mượt như sáp ong. Nhựa độc có cảm giác mềm hơn và gờn gợn như có những hạt nhỏ.

Monday, March 4, 2013

NGÀNH CÔNG NGHIỆP BAO BÌ NHỰA TĂNG TRƯỞNG MẠNH TRONG TƯƠNG LAI


Ngành công nghiệp bao bì nhựa bắt đầu gần nửa thế kỷ trước tại Việt Nam, tuy nhiên, việc sản xuất vẫn còn hạn chế và nhỏ bé cho đến những năm gần đây. Vì vậy, ngành công nghiệp nhựa Việt Nam là coi vẫn còn trong giai đoạn trứng nước nên vẫn phát triển chậm hơn so với các nước khác trong khu vực như Malaysia, Singapore, Thái Lan và Trung Quốc.
Để so sánh, sản lượng bao bi nhựa được sản xuất của Việt Nam bằng bình quân đầu người là 25 kg nhựa / người vào năm 2005, và dự kiến sẽ tăng đến 40 kg / đầu người vào năm 2010. Mặc dù đây là một sự gia tăng nhanh chóng, sản lượng nhựa được sản suất bình quân đầu người của Malaysia năm 1999 đã được 49kg, gấp năm lần so với con số này của Việt Nam trong cùng một năm (9.4kg). Sản lượng của Singapore sản xuất ra tính trên đầu người trong cùng một năm là gấp 10 lần và Thái Lan gấp ba lần, thậm chí Indonesia gấp hai lần.
Hiện nay, có khoảng 2700 công ty nhựa tại Việt Nam, 80% trong số đó là là cỡ trung bình và tư nhân. Chỉ có 6% là nhà nước, nhưng họ chiếm khoảng 20% tổng số vốn đầu tư vào ngành công nghiệp này. Nhưng cũng là đối thủ cạnh tranh đối với tư nhân. Phần còn lại là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 35%.
Mặc dù là những doanh nghiệp nhỏ so với các đối thủ Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia, nhưng ngành nhựa là một ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh tại Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 30 %/năm . Sự tăng trưởng này đã làm cho chất dẻo một nguồn thu xuất khẩu lớn cho đất nước. Trong năm 2005, đứng thứ ba sau than đá và gạo là ngành phát triển nhanh nhất bất chấp sự gia tăng nhanh chóng của dầu mỏ và các ngành mũi nhọn khác đồng thời gây ra bước nhảy vọt lớn trong thị trường nhựa. Sự tăng trưởng này đã được lưu ý đặc biệt bởi đối thủ cạnh tranh khu vực như Malaysia đã phản ứng bằng cách đầu tư để cố gắng phát triển thị trường mới. Ví dụ về điều này là Poly Tower Ventures Bhd, và Tong Guan Industries Berhad đầu tư mở cả hai nhà máy tại Việt Nam, để đạt được cả hai chia sẻ thị trường địa phương và để có thể nhận đơn đặt hàng nhiều hơn từ EU và Mỹ.
Ngành công nghiệp nhựa tại Việt Nam tập trung vào thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và thành phố như Bình Dương, Đồng Nai, Long An, và Bà Rịa Vũng Tàu thu hút được 80 phần trăm tổng vốn đầu tư trong ngành công nghiệp nhựa Việt Nam, chiếm 80 phần trăm của tổng sản phẩm nhựa. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nguồn cung cấp centerfor sản xuất, dây chuyền cung ứng hỗ trợ, phát triển kỹ thuật, phân phối và giao dịch quốc tế của ngành công nghiệp tại Việt Nam.
Ngành công nghiệp nhựa quốc gia sản xuất hầu như tất cả những gì thị trường tiêu thụ trong nước và sản xuất hiện nhiều hơn theo định hướng đối với mặt hàng trong nước và đóng gói vis-à-vis xuất khẩu. Thị trường nội địa của Việt Nam đang thay đổi và ngày càng có nhiều nhu cầu về công nghệ cao các sản phẩm nhựa cao. Năm 2004, các sản phẩm nhựa Việt Nam được sản xuất với hạt nhựa chính hãng. Kể từ đó, để phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng, chính phủ đã cho phép nhập khẩu phế liệu nhựa rẻ hơn: Việt Nam là châu Á nhập khẩu lớn thứ hai của vật liệu nhựa. Chính vì thế giá nguyên liệu nhựa đã tăng mạnh gần đây.
Ngành công nghiệp nhựa tại Việt Nam có xu hướng thu hút được rất nhiều lao động. Một cuộc khảo sát năm 2004 cho thấy rằng 70% lực lượng lao động trong ngành công nghiệp nhựa Việt Nam là không có tay nghề, bảy lần cao hơn mức trung bình kết hợp của các ngành khác. Hầu hết các công ty nhựa sử dụng từ 10 đến 50 người. Tiền lương hàng tháng trung bình cho một ngành công nghiệp nhựa nhân viên chỉ là dưới 2 triệu đồng, với một mức độ lớn của sự biến đổi tuỳ thuộc vào việc công ty là nước ngoài hoặc địa phương sở hữu và phụ thuộc vào vị trí của các cơ sở nhà máy.
Ngành công nghiệp này cũng được đặc trưng bởi theo vốn và thiếu công nghệ. Phần lớn các thiết bị sử dụng trong các doanh nghiệp nhựa Việt Nam là ngoài trang thiết bị nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Hầu hết các thiết bị sản xuất trong ngành công nghiệp nhựa được nhập khẩu.
Các sản phẩm nhựa Công nghiệp Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Hiện nay ngành công nghiệp nhựa Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 1,5-2.000.000 tấn nguyên liệu hàng năm, cộng với hàng trăm hóa chất phụ trợ được sử dụng trong ngành công nghiệp nhựa. Nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng 30 phần trăm nhu cầu của các nước. Năm 2004 Việt Nam đã được thứ hai của châu Á lớn nhất nhập khẩu nguyên liệu nhựa. Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực để thúc đẩy thay thế nhập khẩu bằng cách giúp đỡ để tài trợ cho các cơ sở trong nước sản xuất nhiều nhưng chính phủ dự báo rằng Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng một nửa số nhựa cần thiết sau khi các cơ sở này sản xuất được hoàn thành trong năm 2010.
Những nguyên liệu mà Việt Nam phụ thuộc vào là polyethylene (PE), polypropylene (PP), polyvinyl chloride E (PVCE) và styrene polyvinyl (PS) được nhập khẩu từ nước ngoài. Việt Nam ít phụ thuộc vào nhập khẩu sản phẩm polypropylene hướng B (BOPP), polyvinyl chloride S (PVC) và dioctyl phthalate (DOP) nhựa là số ngày càng tăng của này đang được sản xuất trong nước – nguồn cung vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu.
Các nhà xuất khẩu nhựa lớn đối với Việt Nam là nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Trong năm 2005, Việt Nam nhập khẩu 1.147 tấn cả nguyên liệu và thành phẩm. Giá trị nhập khẩu nhựa là $ 1.426 triệu đồng, bằng bốn lần giá trị xuất khẩu là $ 350 trong năm 2005. Năm 2004, Việt Nam xuất khẩu chỉ có 10 phần trăm tổng sản lượng, 90 tức là phần trăm cho nhu cầu trong nước (VPA).
Sản phẩm nhựa của VN đã được chuyển đến nhiều nước như Campuchia, Lào, Ấn Độ, Sri Lanka, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Đài Loan và Mỹ.
Cơ hội đầu tư tồn tại trong lĩnh vực đóng gói, máy móc sản xuất nhựa, nhựa plastic và chất thải sản xuất nhựa tái chế các phân ngành.Các nguồn thông tin bổ sung bên cạnh Runckel & Associates, đã thực hiện rất nhiều dự án trong lĩnh vực này, là phần của Đại sứ quán thương mại hoặc miền Nam Việt Nam Hiệp hội Nhựa (VSPA), người Việt Nam Hiệp hội Nhựa (VPA) và Liên đoàn các nước ASEAN của Nhựa Industries (AFPI ). VSPA và VPA là hai tổ chức công nghiệp lớn nhất Việt Nam. VSPA có hơn 800 công ty thành viên . VPMA là một tổ chức phi chính phủ với gần 500 thành viên vào năm 2006. AFPI là tổ chức lớn nhất ngành công nghiệp khu vực cho ngành công nghiệp nhựa.
Các con số dưới đây cho thấy việc xử lý nhu cầu tăng trưởng polymer của Việt Nam so với các nước ASEAN từ 1999 – 2004 (triệu tấn). Nhu cầu gia công polymer của Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng và đứng thứ ba sau Thái Lan và Indonesia.

CÁCH PHÂN BIỆT BAO BÌ NHỰA ĐỘC HẠI


Muốn nhận biết bao bi nhua có tính độc hay không, hãy dùng kéo cắt một miếng túi đựng thực phẩm cho vào lửa và quan sát.Ngày nay bao túi nilông đang ở thời kỳ “hòang kim”, đâu đâu cũng có. Nhưng ít người biết được rằng một số chúng được sản xuất từ những chất liệu nhựa độc hại với sức khỏe con người.
Nhìn chung những lọai nhựa PP, PE, PS là những lọai nhựa không có tính độc. PE, PS thường được dùng để sản xuất các đồ đựng thực phẩm cố định như khay, hộp, đĩa. Nhựa PVC có tính độc nên không được dùng để sản xuất túi hay hộp đựng thực phẩm được.

Muốn nhận biết nhựa có tính độc hay không, hãy dùng kéo cắt một miếng túi đựng thực phẩm cho vào lửa và quan sát:
  • Nhựa không có tính độc thì rất dễ cháy. Sau khi đã kéo ra khỏi lửa vẫn còn tiếp tục cháy và có chảy chất nước lỏng, không bốc khói.
  • Ngược lại nhựa có tính độc thì khó cháy, khi ra khỏi lửa sẽ tắt ngấm. Khi cháy bốc khói và có mùi khét lạ.
Ngòai ra:
  • Trọng lượng nhựa có tính độc thường lớn hơn, thả vào nước dễ chìm xuống,còn lọai không độc thì nhẹ và dễ nỗi trong nước.
  • Nhựa có độc sờ vào thấy mềm mại hơn, trên bề mặt có gợn những hạt nhỏ li ti như hạt cát nhỏ. Nhựa không độc sờ vào trơn mượt như kiểu sáp ong (Theo Bách khoa gia đình)
Xem xét vấn đề độc hại của chất dẻo khi sử dụng có thể nói rằng, tất cả những chất dẻo dùng làm bao bi chứa thực phẩm lỏng đều an toàn vì các nhà sản xuất phải tuân thủ các quy định pháp lý về chất lượng bao bì nhựa.
Đồ gia dụng nào, nhựa ấy
Viện Hoá học Công nghiệp Việt Nam, Viện Hoá học – Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam và trung tâm nghiên cứu vật liệu polyme - trường đại học Bách Khoa  Hà Nội đã thành công trong việc tìm ra được tổ hợp vật liệu PE có khả năng phân rã đến kích thước milimet trong môi trường tự nhiên với thời gian khoảng 3 – 6 tháng và đang tổ chức sản xuất ở quy mô nhỏ. Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xem xét việc hỗ trợ cho một doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh để sản xuất loại túi PE tự phân hủy loại này cung cấp cho thị trường trong nước và có thể xuất khẩu.
Các nước tiên tiến trên thế giới đã bắt đầu tung ra thị trường các loại bao bì từ polylactic axit có khả năng phân hủy hoàn toàn đến nước và CO2. Do giá thành còn cao nên đó là loại vật liệu trong tương lai.
Trong sinh hoạt hàng ngày, loại nhựa thường gặp nhất là PE (polyethylene). Đi vào một số cửa hàng bán tạp hoá hay đồ nhựa, chúng ta dễ dàng bắt gặp nhiều loại túi hình chữ nhật trong suốt không màu hay túi đựng có nhiều màu khác nhau mà theo thói quen không biết từ khi nào gọi nhầm là túi nilon (nilon là một loại polyamid có cấu tạo hoá học và tính chất hoàn toàn khác).
Những chai đựng sữa, nước ngọt và một số thực phẩm lỏng khác thường làm bằng nhựa PE tỷ trọng cao, được gọi tắt là HDPE (high density polyethylene) hay PVC (polyvinyl chloride) loại chuyên dùng cho thực phẩm. Có thể nói ở tất cả các chợ lớn, nhỏ, siêu thị hay chợ ven đường… hàng hoá giao cho khách hàng đều đựng túi PE. Tuy nhiên, việc sản xuất ra HDPE cũng sử dụng tới các hoá chất độc hại như hexane và benzne.
Một loại nhựa khác gần với PE là PP (polypropylene). Do PP có tính chất cơ học cao hơn PE nên được kéo sợi và dệt thành các loại bao bì đựng gạo, đường, ngô, đậu nành, lạc… Tùy theo yêu cầu, phía trong bao gì còn một lớp màng chống ẩm. Sợi PP còn dệt thành bạt để che mưa, nắng rất phổ biến ở cả thành thị và nông thôn. Các loại xô, chậu, rổ rá cũng thường làm bằng nhựa PP được xem là loại plastic tốt nhất.
Chai đựng nước tinh khiết có dung tích 0,3; 0,5 và 1,0 lít thường thấy trên bàn tiếp khách của cơ quan, bàn ăn của nhà hàng, gia đình, mang theo đi công tác hay du lịch, chủ yếu làm bằng nhựa PET (polyethyleneterephtalat). Loại nhựa này có độ bền cơ học tốt nên bầu như không bị nứt, vỡ khi vận chuyển.
Những loại chai lớn hơn có dung tích 5 lít, 20 lít cũng làm bằng loại nhựa này. Một lượng lớn chai PET có dung tích khác nhau còn được sử dụng để để đựng dầu thực vật (đậu nành, mè, lạc…)… Tuy nhiên, những loại nhựa này có thể rò rỉ vào trong nước kim loại an-ti-môn và ô-xít chì rất độc hại nhất là khi đựng nước nóng hay để trong môi trường có nhiệt độ cao. Các nhà khoa học cũng khuyến cáo không nên sử dụng lại những chai nhựa làm bằng PET vì khó làm sạch và có thể chứa nhiều loại vi khuẩn gây bệnh.
Những hộp bảo quản thức ăn hình khối chữ nhật (storage box) gia công trong nước hay xuất xứ từ Trung Quốc có phần thân không màu, hơi mờ đục còn nắp có các màu nhạt khác nhau thường làm bằng nhựa PE hay HDPE. Một loại hộp đựng hình trụ có nắp hay cốc uống nước thon đáy để xếp thành chồng  nhiều chiếc cho  gọn khi vận chuyển và sắp xếp trước khi sử dụng cũng làm từ nhựa PE hay HDPE. Trên nắp hộp có đề dòng chữ nổi cho biết an toàn khi cho vào lò vi sóng (This is microwave oven safe).
Bình đun nước siêu tốc, vỏ quạt máy, vỏ  máy hút bụi và ống kèm theo phần lớn làm bằng nhựa ABS (acrylonitil butadien – styren). Loại chất dẻo này chịu được nước sôi không bị biến dạng, có tính chất cơ học tốt, đặc biệt có độ bền va đập cao. Chính vì vậy khi hút bụi trên sàn nhà có diện tích rộng, có thể lấy chân hất mạnh cho chạy sang vị trí khác và nếu có va vào chân bàn, ghế cũng không sao.
Tất cả những loại chất dẻo nêu trên như PE, HDPT, PVC, PET, ABS đều thuộc họ nhựa nhiệt nghĩa là khi tăng nhiệt độ thì mềm ra rồi chảy nhớt và khi làm nguội lại trở về trạng thái rắn ban đầu. Vì tất cả chúng sử dụng cho mục đích thông thường nên còn gọi là nhựa nhiệt dẻo thông dụng (commodity thermoplastics).
Một loại sản phẩm đã có mặt ở nước ta do Trung Quốc sản xuất là bình pha trà cá nhân hình trụ có nắp vặn chặt và bên trong có bầu lọc để chặn các lá chè khi rót hay uống trực tiếp. Bình này làm bằng nhựa PC (polycacbonat) màu trong suốt, có độ bền cơ học rất cao và chịu nhiệt tốt hơn nhựa PET nên có thể đổ nước sôi trực tiếp khi pha trà mà không làm bình biến dạng. Do có độ bền cơ học và chịu nhiệt cao nên nhựa PC được xếp vào loại nhựa nhiệt dẻo kỹ thuật (engineering thermoplastics). Nylon cũng thuộc loại nhựa này. PC chứa nhiều chất độc chloride, gây rò rỉ dioxin, loại chất cực độc gây ung thư.
Nhiều loại bát, đĩa có các hoạ tiết rất đẹp mắt trên nền trắng đục và cầm trên tay có cảm giác không phải là nhựa nhưng thực ra những sản phẩm này làm từ tổ hợp nhựa melamin-fomandehyt có thêm chất độn và phụ gia, thường gọi tắt là nhựa melamin. Đây là loại nhựa nhiệt rắn (thermoset plastics), nghĩa là khi gia nhiệt đến một nhiệt độ nhất định bị rắn lại và có nâng nhiệt độ lên nữa cũng không nóng chảy.
Nhận biết nhựa tốt bằng cách… đốt
Với những kiến trên, bạn có thể nhận biết được những sản phẩm nhựa dùng hàng ngày đi từ gốc nhựa nào. Tuy nhiên, để chắc chắn hơn, có thể làm một thí nghiệm đơn giản là đốt. Nhựa PE, HDPE, PP đều thuộc một họ có cấu tạo hoá học gần như nhau, nếu có khối lượng phân tử thấp thì tương tự như parafin (sáp). Do vậy, nếu châm bật lửa đốt, không có mùi khét thì đấy là PE, HDPE hay PP. Nhựa PET, ABS cháy với ngọn lửa có khói đen và có mùi khét. Còn nhựa PVC không cháy thành ngọn lửa.
Độc hại nếu không dùng đúng cách
Xem xét vấn đề độc hại của chất dẻo khi sử dụng có thể nói rằng, tất cả những chất dẻo dùng làm bao bì chứa thực phẩm lỏng với các thương hiệu nổi tiếng trong nước hay nước ngoài thì đều an toàn vì các nhà sản xuất phải tuân thủ các quy định pháp lý về chất lượng bao bì nhựa.
Vấn đề đáng lo ngại nhất là sử dụng tùy tiện những bao bì cũ. Thật không an toàn khi dùng những thùng nhựa đã đựng sơn nước để muối dưa, cà.Một số hoá chất độc hại có trong sơn đã thấm vào nhựa sẽ khuếch tán ra môi trường nước – axit của dưa, cà và có tác hại đến sức khoẻ của người tiêu dùng. Nói chung, tuyệt đối không dùng các thùng nhựa đã đựng hoá chất để đựng nước ăn hay các loại thực phẩm lòng. Cần lưu ý, khi cần đựng dầu ăn, nước mắm, dầu thực vật, rượu thuốc, nên dùng chai PET (mới hay đã đựng nước tinh khiết) vì loại chai này có độ an toàn cao về vệ sinh thực phẩm.

PHÁT MINH MỚI SẢN XUẤT BAO BÌ NHỰA BẰNG VỎ HẠT ĐIỀU


Loại bao bi nhua này đủ bền để sử dụng trong các thiết bị điện tử và NEC hy vọng việc tiếp tục nghiên cứu về nhựa sinh học có thể tạo ra loại nhựa dùng trong một loạt thiết bị điện tử vào năm 2014.Hãng điện tử NEC Corporation của Nhật Bản đã thông báo lần đầu tiên chế tạo được một loại nhựa làm từ chất thải sinh học là vỏ hạt điều.

nhua-sinh-hoc

Loại bao bi nhựa này đủ bền để sử dụng trong các thiết bị điện tử và NEC hy vọng việc tiếp tục nghiên cứu về nhựa sinh học có thể tạo ra loại nhựa dùng trong một loạt thiết bị điện tử vào năm 2014.
Theo NEC, loại nhựa sinh học mới trên không có những nhược điểm là khả năng chịu nhiệt và độ bền trong nước kém giống như các loại nhựa sinh học khác được sản xuất từ tế bào cây và dầu cây thầu dầu và như thế nó có thể sử dụng để chế tạo hàng điện tử bền và thân thiện với môi trường hơn như máy tính.
Nhựa sinh học đã giành được sự chú ý lớn hơn như một loại vật liệu thay thế cho nhựa truyền thống đi từ dầu mỏ vốn góp phần gây ra tình trạng ấm lên trên toàn cầu cũng như ô nhiễm môi trường.
Tuy nhiên các loại nhựa sinh học chế tạo trước đó được sản xuất từ các nguồn lương thực nên làm dấy lên lo ngại về khả năng thiếu hụt lương thực trong tương lai.
Hồi tháng 8, nhà sản xuất mỹ phẩm và hàng gia dụng Procter and Gamble (P&G) đã thông báo việc sản xuất loại bao bì thân thiện với môi trường làm từ nhựa chiết xuất từ cây mía cho các thương hiệu Pantene Pro V, CoverGirl và Max Factor của hãng này

Sunday, March 3, 2013

NGÀNH CÔNG NGHIỆP BAO BÌ NHỰA TĂNG TRƯỞNG MẠNH TRONG TƯƠNG LAI


Ngành công nghiệp bao bì nhựa bắt đầu gần nửa thế kỷ trước tại Việt Nam, tuy nhiên, việc sản xuất vẫn còn hạn chế và nhỏ bé cho đến những năm gần đây. Vì vậy, ngành công nghiệp nhựa Việt Nam là coi vẫn còn trong giai đoạn trứng nước nên vẫn phát triển chậm hơn so với các nước khác trong khu vực như Malaysia, Singapore, Thái Lan và Trung Quốc.
Để so sánh, sản lượng bao bi nhựa được sản xuất của Việt Nam bằng bình quân đầu người là 25 kg nhựa / người vào năm 2005, và dự kiến sẽ tăng đến 40 kg / đầu người vào năm 2010. Mặc dù đây là một sự gia tăng nhanh chóng, sản lượng nhựa được sản suất bình quân đầu người của Malaysia năm 1999 đã được 49kg, gấp năm lần so với con số này của Việt Nam trong cùng một năm (9.4kg). Sản lượng của Singapore sản xuất ra tính trên đầu người trong cùng một năm là gấp 10 lần và Thái Lan gấp ba lần, thậm chí Indonesia gấp hai lần.
Hiện nay, có khoảng 2700 công ty nhựa tại Việt Nam, 80% trong số đó là là cỡ trung bình và tư nhân. Chỉ có 6% là nhà nước, nhưng họ chiếm khoảng 20% tổng số vốn đầu tư vào ngành công nghiệp này. Nhưng cũng là đối thủ cạnh tranh đối với tư nhân. Phần còn lại là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 35%.
Mặc dù là những doanh nghiệp nhỏ so với các đối thủ Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia, nhưng ngành nhựa là một ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh tại Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 30 %/năm . Sự tăng trưởng này đã làm cho chất dẻo một nguồn thu xuất khẩu lớn cho đất nước. Trong năm 2005, đứng thứ ba sau than đá và gạo là ngành phát triển nhanh nhất bất chấp sự gia tăng nhanh chóng của dầu mỏ và các ngành mũi nhọn khác đồng thời gây ra bước nhảy vọt lớn trong thị trường nhựa. Sự tăng trưởng này đã được lưu ý đặc biệt bởi đối thủ cạnh tranh khu vực như Malaysia đã phản ứng bằng cách đầu tư để cố gắng phát triển thị trường mới. Ví dụ về điều này là Poly Tower Ventures Bhd, và Tong Guan Industries Berhad đầu tư mở cả hai nhà máy tại Việt Nam, để đạt được cả hai chia sẻ thị trường địa phương và để có thể nhận đơn đặt hàng nhiều hơn từ EU và Mỹ.
Ngành công nghiệp nhựa tại Việt Nam tập trung vào thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận và thành phố như Bình Dương, Đồng Nai, Long An, và Bà Rịa Vũng Tàu thu hút được 80 phần trăm tổng vốn đầu tư trong ngành công nghiệp nhựa Việt Nam, chiếm 80 phần trăm của tổng sản phẩm nhựa. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nguồn cung cấp centerfor sản xuất, dây chuyền cung ứng hỗ trợ, phát triển kỹ thuật, phân phối và giao dịch quốc tế của ngành công nghiệp tại Việt Nam.
Ngành công nghiệp nhựa quốc gia sản xuất hầu như tất cả những gì thị trường tiêu thụ trong nước và sản xuất hiện nhiều hơn theo định hướng đối với mặt hàng trong nước và đóng gói vis-à-vis xuất khẩu. Thị trường nội địa của Việt Nam đang thay đổi và ngày càng có nhiều nhu cầu về công nghệ cao các sản phẩm nhựa cao. Năm 2004, các sản phẩm nhựa Việt Nam được sản xuất với hạt nhựa chính hãng. Kể từ đó, để phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng, chính phủ đã cho phép nhập khẩu phế liệu nhựa rẻ hơn: Việt Nam là châu Á nhập khẩu lớn thứ hai của vật liệu nhựa. Chính vì thế giá nguyên liệu nhựa đã tăng mạnh gần đây.
Ngành công nghiệp nhựa tại Việt Nam có xu hướng thu hút được rất nhiều lao động. Một cuộc khảo sát năm 2004 cho thấy rằng 70% lực lượng lao động trong ngành công nghiệp nhựa Việt Nam là không có tay nghề, bảy lần cao hơn mức trung bình kết hợp của các ngành khác. Hầu hết các công ty nhựa sử dụng từ 10 đến 50 người. Tiền lương hàng tháng trung bình cho một ngành công nghiệp nhựa nhân viên chỉ là dưới 2 triệu đồng, với một mức độ lớn của sự biến đổi tuỳ thuộc vào việc công ty là nước ngoài hoặc địa phương sở hữu và phụ thuộc vào vị trí của các cơ sở nhà máy.
Ngành công nghiệp này cũng được đặc trưng bởi theo vốn và thiếu công nghệ. Phần lớn các thiết bị sử dụng trong các doanh nghiệp nhựa Việt Nam là ngoài trang thiết bị nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Hầu hết các thiết bị sản xuất trong ngành công nghiệp nhựa được nhập khẩu.
Các sản phẩm nhựa Công nghiệp Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Hiện nay ngành công nghiệp nhựa Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 1,5-2.000.000 tấn nguyên liệu hàng năm, cộng với hàng trăm hóa chất phụ trợ được sử dụng trong ngành công nghiệp nhựa. Nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng 30 phần trăm nhu cầu của các nước. Năm 2004 Việt Nam đã được thứ hai của châu Á lớn nhất nhập khẩu nguyên liệu nhựa. Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực để thúc đẩy thay thế nhập khẩu bằng cách giúp đỡ để tài trợ cho các cơ sở trong nước sản xuất nhiều nhưng chính phủ dự báo rằng Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng một nửa số nhựa cần thiết sau khi các cơ sở này sản xuất được hoàn thành trong năm 2010.
Những nguyên liệu mà Việt Nam phụ thuộc vào là polyethylene (PE), polypropylene (PP), polyvinyl chloride E (PVCE) và styrene polyvinyl (PS) được nhập khẩu từ nước ngoài. Việt Nam ít phụ thuộc vào nhập khẩu sản phẩm polypropylene hướng B (BOPP), polyvinyl chloride S (PVC) và dioctyl phthalate (DOP) nhựa là số ngày càng tăng của này đang được sản xuất trong nước – nguồn cung vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu.
Các nhà xuất khẩu nhựa lớn đối với Việt Nam là nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Trong năm 2005, Việt Nam nhập khẩu 1.147 tấn cả nguyên liệu và thành phẩm. Giá trị nhập khẩu nhựa là $ 1.426 triệu đồng, bằng bốn lần giá trị xuất khẩu là $ 350 trong năm 2005. Năm 2004, Việt Nam xuất khẩu chỉ có 10 phần trăm tổng sản lượng, 90 tức là phần trăm cho nhu cầu trong nước (VPA).
Sản phẩm nhựa của VN đã được chuyển đến nhiều nước như Campuchia, Lào, Ấn Độ, Sri Lanka, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Đài Loan và Mỹ.
Cơ hội đầu tư tồn tại trong lĩnh vực đóng gói, máy móc sản xuất nhựa, nhựa plastic và chất thải sản xuất nhựa tái chế các phân ngành.Các nguồn thông tin bổ sung bên cạnh Runckel & Associates, đã thực hiện rất nhiều dự án trong lĩnh vực này, là phần của Đại sứ quán thương mại hoặc miền Nam Việt Nam Hiệp hội Nhựa (VSPA), người Việt Nam Hiệp hội Nhựa (VPA) và Liên đoàn các nước ASEAN của Nhựa Industries (AFPI ). VSPA và VPA là hai tổ chức công nghiệp lớn nhất Việt Nam. VSPA có hơn 800 công ty thành viên . VPMA là một tổ chức phi chính phủ với gần 500 thành viên vào năm 2006. AFPI là tổ chức lớn nhất ngành công nghiệp khu vực cho ngành công nghiệp nhựa.
Các con số dưới đây cho thấy việc xử lý nhu cầu tăng trưởng polymer của Việt Nam so với các nước ASEAN từ 1999 – 2004 (triệu tấn). Nhu cầu gia công polymer của Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng và đứng thứ ba sau Thái Lan và Indonesia.

Sunday, February 24, 2013

BƯỚC ĐỘT PHÁ CHO NGÀNH BAO BI NHUA


Từ chỗ phải nhập khẩu BAO BI  nhựa, đến nay ngành sản xuất này không những đã đáp ứng cơ bản nhu cầu về bao bì của nhiều ngành kinh tế trong nước mà còn xuất khẩu sản phẩm ra hàng chục nước trên thế giới.
 
Mặt khác, hơn 50% số khuôn mẫu bao bì cứng và phần lớn thiết bị sản xuất BAO BI NHUA mềm như: máy in, máy ghép, máy thổi đều phải nhập khẩu. Việc đầu tư cho khuôn mẫu chất lượng cao rất tốn kém nhưng khả năng tiêu thụ từng loại mẫu mã mặt hàng chưa đủ lớn để tính toán khấu hao phù hợp với giá thành sản phẩm, trong khi đó, xác suất rủi ro ở ngành này khá cao. Những mặt hàng bao bì xuất khẩu phần lớn thuộc dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp như: túi xốp đựng hàng siêu thị hoặc túi đựng rác đang có nguy cơ mất thị trường vì xu thế của thế giới đang hạn chế dùng túi nylon để bảo vệ môi trường. Đó là chưa nói đến những bất cập khác như: thiếu lao động kỹ thuật cao, thiếu sự phân công sản xuất theo từng nhóm mặt hàng dẫn đến cạnh tranh thiếu lành mạnh ngay thị trường trong nước.
 
Muốn tạo bước đột phá cho ngành sản xuất bao bì nhựa phải giải quyết được ba vấn đề: xây dựng các nhà máy sản xuất nguyên liệu trong nước; áp dụng công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường và thu gom, tái chế bao bì đã qua sử dụng. Tuy nhiên, hiện nay cả nước chỉ mới có hai nhà máy sản xuất PVC, đáp ứng 10% nhu cầu. Chưa có nhà máy nào sản xuất các dòng nguyên liệu PP, PE cũng như các dòng nguyên liệu khác ngoài dự án Nhà máy sản xuất PP với công suất 150 nghìn tấn/năm đang chuẩn bị triển khai tại khu vực Nhà máy lọc dầu Dung Quất.
 
Theo nguyện vọng của nhiều DN nhựa, trong khi chờ đợi có thêm nhà máy sản xuất nguyên liệu trong nước, kiến nghị Nhà nước mở rộng tiêu chuẩn và chủng loại cho phép nhập khẩu có kiểm soát các sản phẩm phế liệu nhựa công nghiệp và cho tái chế nguyên liệu nhựa đã qua sử dụng tại Việt Nam, đồng thời cho giảm thuế suất thuế nhập khẩu hai loại nguyên liệu PVC và DOP trong khối AFTA từ 5% xuống còn 2% hoặc bằng 0% vì hai loại nguyên liệu này chưa đủ đáp ứng nhu cầu của các cơ sở sản xuất nhựa trên toàn quốc.
 
Hiện nay, các cơ sở sản xuất bao bì trong nước đều đầu tư thiết bị công nghệ mới, tiên tiến nhưng về lâu dài ngành công nghiệp cơ khí trong nước phải vươn lên đảm nhiệm công việc sản xuất khuôn mẫu cao cấp, góp phần giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Đón trước xu thế của thế giới hạn chế dần đi đến không sử dụng bao bì nylon, ngành nhựa nói chung và từng DN nói riêng cần nghĩ đến giải pháp sản xuất bao bì nhựa tự hủy thân thiện với môi trường. Theo Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Nhựa Việt Nam, để đạt được mục tiêu này, giá thành bao bì nhựa sẽ tăng lên gấp rưỡi, đây là bài toán khó, vượt ra khỏi khả năng tài chính của DN, rất cần có sự giúp sức của các cấp, các ngành. Ngành nhựa cần tiếp cận và ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến của thế giới, giải quyết vấn đề rác thải. Trước mắt, cần tăng cường kiểm soát chặt chẽ công tác thu gom, phân loại và tái chế bao bì nhựa đã qua sử dụng.
 
Hiện nay ở Việt Nam, tuy đã có một số cơ sở tái chế nhựa nhưng quy mô còn nhỏ, công nghệ và quy trình chưa hoàn chỉnh. Cần có chính sách khuyến khích các DN trong nước và nước ngoài đầu tư vào ngành công nghiệp môi trường, gồm nhà máy tái chế bao bì nhựa và sản phẩm nhựa bảo đảm các loại bao bì đã qua sử dụng được tái chế nhiều "vòng", cuối cùng được làm thành vật liệu xây dựng có ích như: gạch lát đường, bê-tông chắn sóng, bờ bao...
 
Ngoài ra, Hiệp hội bao bì Việt Nam cần định hướng phát triển cho ngành những năm tới, tăng cường phối hợp giữa các DN để hợp tác phân công hợp lý các nhóm sản phẩm, tránh tình trạng sản xuất trùng lắp và tính tụ, gây thiệt hại cho các DN và lãng phí cho xã hội.